Mở đầu
“Ngôi nhà – nơi trú ngụ của trái tim” – đó là tên cuốn sách về tâm lý học nhà lở và
nội thất của tiến sĩ người Nhật Tomoda Hiromichi, chỉ đọc tên thôi, chúng ta cũng
thấy được tầm quan trọng của ngôi nhà trong cuộc sống của mỗi người. Kể từ khi
sinh ra đến khi mất đi, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào và bất cứ điều kiện sống nào,
hầu như ai cũng có một nơi gọi là nhà.
Nhà là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động “sống” của con
người. Một đời người có lẽ chỉ chính thức tự xây nhà ở cho mình 1 – 2 lần, vì vậy 1
– 2 lần này được xem là một trong ba sự kiện trọng đại nhất của cuộc đời theo quan
niệm của người xưa: “Tậu trâu – cưới vợ – làm nhà” (ngày nay đỗi tậu trâu thành
mua xe hơi cho hợp hoàn cảnh).
Rất ít người có cơ hội tự xây nhà cho mình nhiều lần, bên cạnh đó, thiết kế xây
dựng cũng là loại hoạt động rất phức tạp, diễn ra trong thời gian dài và có rất nhiều
giai đoạn, rủi ro tiềm ẩn. Do đó, đa số mọi người đều bối rối khi lần đầu tiên tự xây
nhà cho mình. Những câu hỏi như phải bắt đầu từ đâu, bắt đầu như thế nào, làm
việc với ai trước, quy mô lớn đến đâu, kinh phí bao nhiêu, xây bao nhiêu lâu, làm
như vậy có đúng hay không, có an toàn hay không?… và vô vàn câu hỏi khác được
đặt ra trong suốt quá trình xây dựng khiến cho gia chủ rất mệt mỏi và căng thẳng.
Trong quá trình làm nghề và tham gia thiết kế, chúng tôi nhận được rất nhiều câu
hỏi và yêu cầu giải thích khá giống nhau của các gia chủ, từ đơn giản đến phức tạp.
Có những câu hỏi rất chuyên sâu mà theo chúng tôi, chủ nhà cũng không cần tìm
hiểu tới nhưng cũng có những câu hỏi vô cùng cơ bản cho thấy chủ nhà hoàn toàn
chưa có kiến thức gì về lĩnh vực này. Vì vậy, chúng xin viết cuốn sách này để giải
quyết hầu hết mọi thắc mắc và câu hỏi thường gặp giúp gia chủ nắm rõ được những
kiến thức cơ bản cũng như quy trình làm việc. Mục đích cuối cùng là để gia chủ có
được căn nhà như ý với chi phí phù hợp và giảm thiểu tối đa các vấn đề không
mong muốn có thể xảy ra. Những thông tin này sẽ là công cụ đắc lực giúp gia chủ
yên tâm hơn trước khi bắt tay vào xây dựng ngôi nhà mơ ước của mình.
Lưu ý rằng cuốn sách này không phải là sách chuyên môn khoa học, nó được viết
dựa trên kinh nghiệm thực tế và tri thức khảo cứu từ hàng chục cuốn sách về kiến
trúc – xây dựng, các tiêu chuẩn – quy chuẩn, cũng như thông tin trên mạng Internet.
Các thông tin được viết ra với mục đích làm tài liệu tham khảo cho chủ nhà và cả
những anh chị sinh viên kiến trúc mới ra trường, các anh chị mới hành nghề môi
giới bất động sản, các chủ thầu công trình mới hay bất cứ ai muốn tìm hiểu thêm về
hoạt động xây dựng nhà ở. Nó không thể thay thế cho bất cứ vai trò nào của kiến
trúc sư (KTS) hay kỹ sư mà chỉ là một cuốn cẩm nang hệ thống lại thông tin kiến
thức cho chủ nhà, giúp việc xây dựng nhà ở diễn ra suôn sẻ hơn.
Các thông tin được đưa ra có thể đúng trong thời gian và khu vực được đề cập nhất
định, nhưng có thể đã thay đổi tại thời điểm anh chị đọc cuốn sách này. Xin nhắc lại
là tất cả chỉ mang tính chất tham khảo, không được đưa ra để làm tài liệu cho bất cứ
tranh chấp dân sự nào.
Chúc anh chị có được các thông tin bổ ích và sớm hoàn thành căn nhà mơ ước của
chính mình.
GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
Trước khi bắt đầu, chúng tôi xin giải thích một vài từ ngữ, thuật ngữ thường gặp
liên quan đến lĩnh vực kiến trúc xây dựng để các anh chị tiện theo dõi.
Kích thước lọt lòng, kích thước thông thủy dùng để chỉ kích thước phía trong
của một vật thể được bao bọc bởi khung, tường bao hay một vật thể cố định nào đó.
Kích thước phủ bì thường dùng để chỉ kích thước tổng của vật thể, tính luôn cả
khung bao và các chi tiết dính liền.

- Chiều cao thông thủy của tầng nhà là chiều cao tính từ mặt sàn hoàn thiện lên
đến trần thạch cao nếu khu vực đó có đóng trần hoặc lên đến phần dầm kết cấu nếu
khu vực đó không đóng trần giả. Nếu khu vực được đo không xuất hiện dầm thì
chiều cao thông thủy sẽ tính từ mặt sàn hoàn thiện đến mặt dưới của sàn bê tông
tầng trên. - Chiều cao tầng theo quy ước là chiều cao tính từ mặt sàn hoàn thiện tầng dưới
đến mặt sàn hoàn thiện tầng trên.

Ví dụ nhà anh chị có tầng 1, chiều cao tầng là 3,5m thì người ta sẽ nói: cốt tầng 2 là
3,5m so với sàn tầng 1. Hoặc ví dụ trần thạch cao nhà anh chị đóng cao 2,8m tính từ
mặt sàn thì người ta sẽ nói: cốt trần thạch cao so với mặt sàn là 2,8m.
- Ban công là phần nhô ra so với khối xây dựng chính có lan can bảo vệ và không
tạo thành phòng. - Lô-gia là phần thụt vào so với khối xây dựng chính có lan can bảo vệ và không
tạo thành phòng. - Tum là phần xây dựng che lối lên cầu thang của tầng trên cùng. Tum thang
thường được phát triển thêm 1 – 2 phòng nhỏ đi kèm tạo thành tầng tum hay tầng
thượng.

- Sê-nô hay máng xối là phần hứng nước mưa của mái nhà.
- Ô văng là phần mái che nhỏ vươn ra khỏi tường, thường để che phần trên cửa
sổ, cửa đi. - Lanh-tô là phần dầm đỡ cho tường xây ngay phía trên cửa sổ, cửa đi.
- Hố ga là bể thu nước thải nhỏ, mục đích tập trung nước thải sinh hoạt hoặc nước
mưa, sau khi lắng lọc các chất cặn thì đẩy nước thải ra hệ thống thoát nước chung. - Bán hầm là tầng mà một nửa chiều cao nằm trên hoặc ngang cao độ vỉa hè hay
cao độ mặt đất đặt công trình đã được duyệt theo quy hoạch. - Tầng hầm thì có quá nửa chiều cao nằm dưới cao độ trên. Bán hầm và hầm sẽ
được quy định về cách tính số tầng khác nhau trong quy hoạch. - Tầng áp mái là lầng nằm bên trong phần mái dốc. Nếu có tường bao thì phần
tường này không cao quá 1,5m so với mặt sàn. Nếu cao hơn thì được tính như một
tầng thông thường

- Nhà lệch tầng là dạng nhà có mặt sàn của cùng một tầng không phẳng mà nằm
so le nhau (thường chênh nhau khoảng 600 – 1200mm), được tách ra ở phần cầu
thang.

- Sự khác nhau trong tên gọi các tầng và lầu ở miền Nam và Bắc: Cách gọi giữa
các tầng và lầu khá khác nhau ở miền Nam và Bắc nên thường gây ra một số bối rối
và lẫn lộn trong quá trình trao đổi. Chúng tôi xin liệt kê các cách gọi phổ biến như
sau:
| MIỀN BẮC | MIỀN NAM | KÝ HIỆU TIẾNG ANH |
| Hầm – Bán hầm | Hầm – Bán hầm | B (Basement) |
| Tầng 1 (tầng trệt) | Trệt | G (Ground Floor) |
| Tầng lửng | Lửng | M (Mezzanine) |
| Tầng 2 | Lầu 1 | 1F (1st Floor) |
| Tầng 3 … | Lầu 2 … | 2F… (2nd Floor) |
| Tầng thượng – Chuồng cu | Tầng thượng – Tầng tum | RT (RoofTop) |
| Áp mái | Áp mái | AL (Attic Level) |
| Mái | Mái | R (Roof) |
